01 March, 2009

Việt sử giai thoại: Chuyện Nguyễn Trực & Trịnh Thiết Trường đi sứ

VIỆT SỬ GIAI THOẠI: Chuyện Nguyễn Trực và Trịnh Thiết Trường đi sứ
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần
Time: 27/03/2009
Trong phần Tùng đàm của sách Kiến Văn Tiểu Lục, Lê Quý Đôn đã chép lại nhiều chuyện tục truyền khá thú vị. Dưới đây là một trong những chuyện tục truyền khá thú vị ấy, kèm theo lời bàn cuối chuyện rất xác đáng của Bảng nhãn Lê Quý Đôn:

"Tục truyền, vào niên hiệu Thái Hòa(1), Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường và Trạng nguyên Nguyễn Trực vâng mệnh triều đình đi sứ sang Trung Quốc. Gặp lúc ấy, triều đình Trung Quốc cũng mở khoa thi và hạ lệnh cho bồi thần các nước được cùng với các Cử nhân của Trung Quốc dự thi. Vào trường thi, khi vừa mới làm bài được chừng một nửa, Trịnh Thiết Trường liền nói với Nguyễn Trực rằng:

Tôi nghĩ đỗ đầu khoa này chỉ có tôi hoặc ông thôi. Nhưng tôi được chỗ đắc ý, sợ ông khó sánh kịp. Khi ở nước nhà, tôi chỉ đỗ Bảng nhãn còn ông đỗ Trạng nguyên, nay nếu tôi chiếm ngôi trên, hẳn là triều đình sẽ trách cứ quan trường trước kia đã chấm văn không tinh. Ý ông thế nào?

Nguyễn Trực nói:
Xin đa tạ tấm lòng của bác. Bác đã thực lòng nhún nhường thì xin bác hãy giảm bớt bút lực, khiến cho hai người cùng được giữ danh thứ giống như xưa là hay hơn cả.

馬 Trịnh Thiết Trường nhận lời. Bài văn của Trịnh Thiết Trường có câu: "Nam chi chu, Bắc chi mã"(2), Trịnh Thiết Trường bèn xóa chữ mã (???!!!) và viết lại, thay vì đủ bốn nét chấm, Trịnh Thiết Trường chỉ viết có ba nét chấm thôi. Khảo quan xét duyệt quyển thi, thấy các quyển đều kém cỏi, chỉ có quyển của Trịnh Thiết Trường đáng đỗ Trạng nguyên và quyển của Nguyễn Trực đáng đỗ Bảng nhãn. Nhưng, vì bài của Thiết Trường viết nhầm một chữ, lại dám cho ngựa phương Bắc ba chân là ngựa què, tức có ý khinh nhờn Trung Quốc, nên họ bèn thay đổi, lấy Nguyễn Trực đỗ Trạng Nguyên hai nước và Thiết Trường đỗ Bảng nhãn hai nước, cùng cho được hưởng lệ vinh quy.

Khi tạ ơn để ra về, thiên triều cũng ban cho áo gấm, hốt vàng, lọng, dù và cả ngựa tốt nữa. Nguyễn Trực được lên ngựa trước, Trịnh Thiết Trường lên ngựa sau. Ngựa của Trịnh Thiết Trường bị buộc một chân trước, khiến cho cái chân trước đó phải co lên, nhưng thiên triều vẫn bắt Trịnh Thiết Trường phải để nguyên dây buộc mà đi, nếu không đi được thì Trịnh Thiết Trường sẽ bị bắt giữ lại. Trịnh Thiết Trường vẫn giữ thái độ bình tĩnh như không. Ông sai người đẽo ván thành hình chân trước của ngựa, tháp vào rồi lấy dây buộc chặt lại, xong, ông còn lấy dây sắt cột thêm vào cho thật chắc. Trịnh Thiết Trường lên ngựa và ra roi. Ngựa vẫn chạy được, vì một chân trước bị cột co lên đã có chân gỗ chống đỡ tạm. Đi được chừng hơn một dặm, thiên triều khen Trịnh Thiết Trường có tài ứng biến, liền sai người tới cởi chân ngựa đã bị buộc ra, cho được cùng với Trạng Nguyên Nguyễn Trực theo thứ tự mà trở về nước.

Lời tục truyền này rất vô lý, thật đáng cười. Nhưng sở dĩ có người đặt ra chuyện này là bởi họ thấy trong tập biểu văn của quốc triều có bài Nghĩ bài biểu tạ ơn thiên triều đã cho Nguyễn Trực đỗ Trạng Nguyên, lại còn ban cho áo mũ, đai và hốt, họ cứ tưởng là có thật nên mới bịa ra câu chuyện quê kệch đó mà thôi. Sự thực, Thánh Tông Thuần Hoàng Đế(3) vì rất quý trọng Nguyễn Trực nên đã bỡn cợt ra đề ấy để Nguyễn Trực làm chớ nào có phải là đúng như chuyện kể đâu?"

Lời bàn: Lời bàn viết ở cuối chuyện của Lê Quý Đôn quả là rất xác đáng, nếu không phải là bậc cẩn trọng, quyết không ai có thể cất công tra cứu sách vở để biện bác rõ ràng như thế. Song, chuyện vẫn là chuyện của bao đời, bởi vì chính nó có cái vẻ bề ngoài khá hợp lý. Kẻ nông cạn thường chỉ có thể xét đoán mọi sự từ cái vẻ hợp lý bề ngoài ấy thôi. Oái oăm thay, kẻ nông cạn thì đông mà bậc cẩn trọng, sâu sắc thì ít. Vô hại như chuyện này chẳng sao chớ chuyện hại nhau mà cũng được khéo léo giấu trong cái vỏ hợp lý bề ngoài như thế này thì nguy hiểm biết chừng nào. Cho nên, hãy cảnh giác, hỡi tất cả những ai thích nghe đàm tiếu chuyện đời!

1. Tức từ năm 1443 đến năm 1453.
2. Nghĩa là thuyền phương Nam, ngựa phương Bắc.
3. Tức Hoàng đế Lê Thánh Tông (1460-1497)

28 February, 2009

Đẻ đất đẻ nước (Te tấc te đác)

Mưa dầm dề chín đêm mười bữa sáng
Mưa rào rào chín buổi sáng mười đêm

Mưa ở giữa đồng
Mưa vòng ra bờ suối
Mưa xói núi
Mưa mòn gò
Mưa từ chân trời này
Mưa sang chân trời nọ

Trời kéo mây ùn ùn
Trời đùn mây kìn kìn
Gió ầm ầm bốn bên
Mây ùn lên từng đống
Mây kéo chồng từng mảng

Mưa ngập ruộng sâu, ruộng cạn
Mưa trằn bờ suối, gò cao

Mưa ngập bụi
Mưa ngập cây
Nước chín đồi đổ về một biển
Nước mười đồi đổ về một sông
__________
Một vài nét về tác phẩm (Source: thptphanchautrinh.com)

1. Quy mô

Sử thi "Đẻ đất đẻ nước" có quy mô hoành tráng. Bản sưu tầm ở Thanh Hoá dài tới 8503 câu thơ. Người Mường ở Nghĩa Lộ, Hoà Bình và miền tây Thanh Hoá còn truyền tụng "Đẻ đất đẻ nước". Các thầy mo (thầy cúng) vẫn đọc "Đẻ đất đẻ nước" trong các tang lễ.

2. Tóm tắt

Thuở ấy, khi đất trời còn hỗn mang, bỗng "mưa dầm mưa dãi" nước ngập mênh mông, 50 ngày sau mới rút hết. Tự nhiên mọc lên một cây xanh có 90 cành, có một cành cao trọc trời, biến thành ông Thu Tha, Bà Thu Thiên. Hai Thần truyền lệnh làm ra Đất, Trời và Vạn vật. Sau đó, nắng dữ dội suốt 12 năm liền, mặt đất xơ xác. Thần Pồng Pêu ao ước một trận mưa lớn. Tức thì mưa to gió lớn suốt chín, mười ngày đêm; hạt mưa to bằng quả bưởi, nước lại ngập bao la. Bẩy tháng sau nước rút cạn, có một cây si khổng lồ mọc lên tua tủa 1919 cành. Trời sai con Sâu Gang khoét ruỗng ruột cây si. Cây đổ, mỗi cành hoá ra một bản mường:

[...] Một cành đổ về đất Sạp
Nên mường Sạp.
Một cành đổ về đất Giạp
Nên mường Giạp.
Một cành ngã về đất Bi, đất Lỗ.
Nên Mường Bi, Mường Lỗ

Có một cành si lại hoá ra Mụ Dạ Dần; mụ đẻ ra hai cái trứng kì dị, nở ra cun Bướm Bạc và cun Bướm Bờ. Vừa mới nở, cun Bướm Bạc đã ăn hết 9 chõ cơm; cun Bướm Bờ ăn hết 5 chõ xôi:

Cun Bướm Bạc và cun Bướm Bờ
Lớn cao hơn đụn chính, đụn mười.
Tiếng cười như tiếng trống cái
Tiếng nói như tiếng sấm vang
Xương vai dài tám mươi lóng
Xương sống dài bẩy mươi gang

Vua trời cho mười nàng tiên xuống trần gian du ngoạn. Hai cun cưõi ngựa bạc, vác ná đi săn lợn rừng, gặp các nàng tiên "lưng ong, tóc mượt". Hai nàng tiên quên đường về trời. Họ nên vợ nên chồng. Sau 12 năm 9 tháng, hai nàng tiên sinh được một bầy con mà "Trống chim Tùng, mái chim Tót là con út con yêu". Đôi chim trống mái sau "9 ngày, 9 đêm, 9 tháng" đẻ ra 1919 chiếc trứng nở ra Thần Chớp, Thần Mây, nở ra chuột, lợn, voi, thú dữ... Đôi chim đẻ ra lứa thứ hai:

Được một trứng đen đen bốn khúc
Trứng bầu dục 4 khuôn
Mặt vuông mặt tròn chín cạnh
Rành rành mười hai quai

Mụ Dạ Dần sai chim chiền chiện ấp, trứng nở ra một bầy con, mỗi đứa nói một thứ tiếng: tiếng Lào, tiếng Thái, tiếng Kinh, tiếng Mọn, tiếng Mường, tiếng Mán, tiếng Mèo… Trứng cũng nở ra anh em nhà lang: ông Dịt Dáng, ông Lang Tà Cái, ông Lang Cun Cần, bố Bướm Khang, ông Sang Si, nàng Vạ Hai Chiếng.... Loài người có từ đấy. Bộ tộc Mường có từ đấy.

Thần Cuộng Minh Vàng Rậm, nàng ả Sấm Trời "đúc 9 mặt trời, đúc được 12 mặt trăng" làm chói chang trời đất. Họ nhà Ngao "thần nỏ" dùng cung tên bắn rụng hết, chỉ để lại một mặt trăng, một mặt trời. Rồi ông Thu Tha, bà Thu Thiên làm ra năm, tháng, ngày, đêm, bốn mùa cho người theo đó làm ăn sinh sống.

Người Mường chưa có thủ lĩnh. Mường nước mời ông Dịt Dáng, rồi mời Lang Tá Cái ra "cầm binh cầm mường”. Cả hai đều bất tài bị "ma đón đường, thuồng luồng xanh","rồng vàng ngăn ngõ". Mường nước phải đi mời Lang Cun Cần ra tiễu trừ ma quỷ, thú dữ.

Ma chạy từng bầy trốn vào trong núi
Ma rồng sợ Lang Cun Cần trời
Thuồng luồng sợ Lang Cun Cần chặt
Ma Trời, ma Đất cùng chạy nhanh nhanh

Lang Cun Cần trở thành thủ lĩnh từ đó. Rùa Thần giúp lang dựng nhà cửa to đẹp. Tà Cắm Cọt (thần lửa) cho Cun Cần lửa. Nàng tiên Mái Lúa (thần Trồng Trọt) giúp lang nhiều hạt giống để sản xuất. Lang Khấm Dậm bày cho cách ủ men chế rượu cần. Mụ La, mụ Húng (thần chăn nuôi) dạy cho mường nước nuôi gia súc, gia cầm. Mường nước có trâu bò cày ruộng làm nương.

Hai chương 17, 18 gồm 1263 câu thơ kể chuyện Lang Cun Cần lấy vợ. Lang lấy em gái là nàng Vạ Hai Chiếng, bị làng bản coi khinh, bị vua Trời sai cun Sấm nàng Sét (thiên lôi) xuống trừng phạt, may mà thoát chết. Lang Cun Cần sai bỏ nàng Vạ Hai Chiếng vào rừng sâu. Lang sai người đem lễ vật đi khắp nơi tìm "gái đẹp con dòng". Cun Cần lấy được nhiều vợ: có vợ là con gái vua Trời, có vợ là thần tiên, có vợ là con gái mường nước. Lang Cun Cần có một bầy con:

Nàng Vậm Đầu Đất
Đẻ được cun Tồi, cái Sang
Nàng Vậm Đầu Nước
Đẻ ra cun Tàng, cái Lớn,
Nàng Ả Sao, Ả Sáng,
Ả Rạng nhà ông vua Trời
Đẻ được Lang Cun Khương
Ả Gái nuôi trong mường
Đẻ ra chàng Toóng Ín

Con cái trưởng thành. Lang Cun Cần chia đất cho các con. Anh em bất hoà. Toóng Ín vu cho Lang Cun Khương làm giặc để âm mưu cướp đất của anh. Lang Cun Khương chạy lên vua Trời, nhờ ông ngoại che chở. Trời giáng hoạ, gây ra lũ lụt, ép anh em nhà Lang phải giết Toóng Ín. Từ đó, Lang Cun Khương trở nên một thủ lĩnh giàu có, đầy quyền uy.

Tậm Tạch là tôi tớ của lang đã tìm được cây Chu Đồng (cây thần) lấy được "bông thau, quả thiếc" mà trở nên giàu có. Anh em Lang Cun Khương lập mưu chuốc rượu cho Tậm Tạch say, lừa lấy được "bông thau, quả thiếc". Lang đưa cả mường nước đi chặt cây Chu Đồng kéo về làm nhà chu. Tậm Tạch phản lại bị lang giết chết. Rùa Thần lại giúp lang làm nhà chu "sáng cả mường, kinh kì kẻ chợ", "rạng trời rạng đất". Lang giết 10 voi ngà, 30 trâu mộng, 9 bò, 100 gà sao, nấu 1000 vò rượu, để ăn mừng. Lang Cun Cần ban thưởng cho các con nhiều vàng bạc quý giá.

Con của Tậm Tạch lại đốt nhà chu để báo thù cho cha. Hắn lại bị lang giết chết, máu hắn hoá thành con Moong khổng lồ, tàn phá bản mường. Lang Cun Cần đưa tất cả mường nước đi săn Moong, vô cùng nguy hiểm mới giết được. Moong được ăn thịt; người Lào, người Thái, người Tày, người Mường nhanh chân lấy được da Moong vằn vện mà học được cách thêu thùa, dệt vải rất đẹp. Người Kinh đến sau lấy được thịt và mỡ Moong, từ đấy biết nấu nhiều món ăn ngon. Người "Mường ngoài" (Hoà Bình) đến sau cùng, chẳng được thứ gì , chỉ nhìn thấy đống tro thui Moong, chẳng may, gió thổi tro bay dính vào môi, nên môi người "Mường ngoài" bị đen là vì thế!

Tai hoạ còn nhiều. Chó ăn phải phổi Moong mà thành chó điên. Chó điên bị giết, xác bị quẳng xuống sông, cá ăn phải biến thành Cá điên. Cá điên bị lang bắt giết, bầy quạ ăn phải hoá ra Quạ điên. Mường nước săn lùng mãi, cuối cùng Lang Cun Khương bắn trúng Qụa, cả bày hoảng sợ bay trốn vào rừng sâu. Nhưng rồi hồn Toóng Ín lại biến thành Ma Ruộng đưa bầy Rắn "mỏ vàng, mỏ đỏ" đánh nhau với anh em Lang Cun Khương. Quân hai bên đánh nhau suốt đêm ngày, kịch chiến giữa ruộng, quần nhau trên đồi gianh, đuổi nhau trong rừng sến, hỗn chiến tại bến sông Rồng,... Toóng Ín thất thế phải chạy xuống thuỷ phủ của Long Vương ẩn náu và xin cầu viện. Long Vương biến Toóng Ín thành Ma May, Ma Lang. Hắn đưa binh mã gồm thuồng luồng, ba ba, cá ngao... dâng nước làm lũ lụt, dìm chết được Lang Cun Tàng. Lang Cun Khương cùng mường nước nổi chiêng cồng đem giáo mác, cung nỏ, lưới... vây các ngả sông đón đánh. Giặc Ma May, Ma Lang bị đại bại, bỏ lại trên bãi chiến trường bao xác loài thuỷ quái.

Từ đó, mường nước yên vui, hoà bình thịnh vượng. Lang Cun Cần đã sống được trên vạn năm. Trẻ già, trai gái mường nước nô nức sắm áo quần, lo kiệu lo ngai, rước vua về, "Đồng chì tam quan kẻ chợ".

Giảng văn: Đẻ nước

1. Xuất xứ

Đoạn thơ này trích gần trọn chương "Đẻ nước" trong sử thi "Đẻ đất đẻ nước"; từ câu 268-334 theo sưu tầm của Hoàng Anh Nhân (Thanh Hoá)

2. Ý chủ đạo

Đoạn thơ nói về trận đại hồng thuỷ thời tiền sử - buổi đầu khai thiên lập địa theo cách cảm nhận riêng của người Mường xa xưa.

3. Ông Pồng Pêu

Là Thần Mưa theo cách gọi của người Mường.
Thiên tai kéo dài "Hạn 9 tháng biền biệt - nắng 12 năm xác đất" làm cho muôn loài đau khổ: "cây cau úa cả tàu - rừng vàu không mọc măng", làm cho "chó mực, chó ngao lè lưỡi, rái cá phải chạy lên đồi"...

Ông Pồng Pêu lúc đó đang ngồi "đan chài" và "đan lưới" trong nhà, bình dị như con người lao động. Ông ngước nhìn khắp trời đất, rồi gọi gió, gọi "mưa cho mát lòng các loài thú hiền thú dữ, cây lau cây bái". Tức thì trời mưa to. Pồng Pêu là biểu tượng cho ý nguyện của muôn loài muôn vật và con người vì sự sống bất diệt trên trái đất.

4. Cảnh trời mưa

Mây vàng mây đen đùn lên che kín cả bầu trời, gió ùn ùn thổi điên cuồng. Cun Sấm nàng Sét cùng ra oai:

Lanh lảnh cun Sấm xuống thét
Lăm lăm nàng sét xuống đánh

Mưa kéo dài "mưa 9 đêm, mưa liền 9 ngày". Hạt mưa " to bằng hột cà" về sau "to bằng quả bưởi". Nước ngập mênh mông. Mưa để "rước nàng ngâu về trời" để "đưa chàng ngâu qua sông Ngân". Mưa "ngập cây", "ngập bụi", mãi "bốn tháng nước rút - bẩy tháng nước xuôi". Mưa đem đến sự sống cho đàn cua đá, đàn cá, đàn ba ba, đàn cá chuối, đàn nòng nọc, đàn cá cơm. Sau khi "đẻ nước" trời "đẻ đất".

Có đất, đất đang xơ xác,
Có nước, nước ùn đục ngầu

Đó vẫn là cảnh thiên địa sơ khai.
_____________
Con Mèo trong sử thi Mường Đẻ đất đẻ nước (Source: baodulich.net.vn by Vương Anh 2011)
Mèo vàng.Con mèo đốm, con mèo đen như bồ hóng
Sống biết chăm việc nhà
Ta chết đừng theo ta cho cực nhọc
Mi hãy ở lại bắt chuột, giữ mùa màng
Cho con, cho cháu, chắt, chút, chít… ta
Mùa nào thức ấy
Chúng nó ăn cơm nhạt
Thì mi ăn cơm nhạt,
Chúng nó ăn canh thịt
Thì mi được ăn cơm thịt…

Cháy hết nhà Tà Cụt, Tà Cặt
Cháy rụi nhà Tà Đôi, Tà Đai
Cháy hết chín mươi hai đụn lúa
Cháy rã nhà kho mắm
Cháy xám nhà kho muối
Cháy rụi kho bát, kho ăn
Cháy hết nhà kho vàng, kho bạc
Cháy xác nhà kho súng
Cháy bùng nhà kho diêm sinh…

Cháy hết nhà Cun Tồi
Cháy rã nơi Cun Tàng
Cháy xém sập bạc, ngai vàng nhà Lang Cun Khương
Cháy lan ra mường
Cháy quàng ra núi
Cháy với lên đồi Bái Cả
Lửa cháy đến đâu
Khói ào ào trụi rừng nát cỏ

Cuộc truy đuổi anh em nhà Tặm Tạch của nhà Lang: Khi Cun Tồi, Cun Tàng, Cun Khương rút dao cán bạc, cán ngà xông ra đuổi chém thì thằng Tặm, con Tạch.

Chạy một mạch lên núi
Chạy một buổi lên rừng
Chạy mãi lên thung xanh
Chạy luồn núi con, núi cái
Chạy quanh chân mây, chân trời

Con Tạch biết hóa, biết chui
Ẩn vào nơi gốc cây si

Tiễn dặn người yêu (xong chu xon xao) (Sống chụ son sao)

(thivien.net)
(văn bản yeuhoabinh.com)
(văn bản thivien.net)
* Đoạn trích Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa (bình luận edu.go.vn)

20 February, 2009

Thầy bói xem voi (biết hay không biết)

  认识  (get to know)

Nhân buổi ế hàng, năm ông thầy bói mù chuyện gẫu với nhau. Thầy nào cũng phàn nàn không biết hình thù con voi nó ra làm sao. Chợt nghe người ta nói có voi đi qua, năm người chung nhau tiền biểu người quản tượng xin cho con voi đứng lại để cùng xem.Thầy sờ vòi, thầy sờ ngà, thầy sờ tai, thầy sờ chân, thầy thì sờ đuôi. Ðoạn năm thầy ngồi lại bàn tán với nhau.
Thầy sờ vòi bảo:
- Tưởng con voi nó thế nào, hóa ra nó dài như con đỉa!
Thầy sờ ngà bảo:
- Không phải, nó cứng như cái đòn càn chứ!
Thầy sờ tai bảo:
- Ðâu có! Nó to bè bè như cái quạt thôi!
Thầy sờ chân cãi lại:
- Ai bảo? Nó sừng sững như cái cột nhà!
Thầy sờ đuôi lại nói:
- Các thầy nói không đúng cả. Chính nó tua tủa như cái chổi xể cùn.
Năm thầy, thầy nào cũng cho mình nói đúng, không ai chịu ai, thành ra xô xát, đánh nhau...
May thay lúc đó có một người đi đường qua trông thấy mới giải thích cho các thầy để khỏi xô xát...
__________
1. Ừ thì tôi là 'thầy bói xem voi'. Tôi chỉ nhìn thấy một bộ phận của con voi nhưng tôi mô tả cái bộ phận đó một cách chân thật. Cái 'lộng ngôn' sai lầm ở đây là mô tả một bộ phận của con voi nhưng 'tin' rằng đấy là cả con voi. Tức là không phản ánh đúng được cái 'sự thực khách quan', nhưng tất cả những gì có thể làm được là trung thực với sự mô tả của mình.
2. Tất cả mô tả của các thầy cộng lại thì mới 'gần' chính xác là con voi. Sai lầm là các thầy tả một bộ phận của con voi mà 'cho rằng' đó là cả con voi, tuy vậy chí ít thì các thầy cũng đã mô tả trung thực với những gì họ 'sờ' được...!
3. Vấn đề ở đây là gì?
- Không muốn mù. Không muốn đánh lừa, cũng không muốn phiến diện nhưng mà 'tại con voi nó tooooooooooooo' thoaj. Mà, đây cũng chỉ là chuyện gẫu, chuyện phiếm, Just for fun thôi.



Symbols used in this blog:

Symbols: © → » «
s. = simplified
tr. = traditional
:::Nắm rõ về nét & Writing Practice:::
*** (chinese-tools.com) Các loại dian, pie, ...
*** (chinese-names.net) Heng zhe gou...
*** (daytodayinchina.com) Chinese Mandarin...
**** (clearchinese.com/chinese-writing) Heng zhe...
*** (ask.com/wiki/Stroke) đầy đủ tổng cộng 37 nét tất cả (8 + 29 = 37 strokes)
*** (genevachineseforkids.net) 30 strokes
* (jjeasychinese.com) Bài luyện tập thực hành viết chữ Hán cho trẻ em
* (chinese-forums.com) Thảo luận
* (classicalmedicine.wordpress.com/strokes) tập viết
**** (learnchineseabc.com) writing & pronunciation. Đặc biệt hỗ trợ Doodle Program với bút lông để người học tập viết (giông giống của Skritter)
* (commons.wikimedia.org) 214 bộ thủ và cách viết từng bộ một
***** (chinesepod.com) FOR THE LOVE OF HANZI (214 bushou & how to write)
:::Reading Practice & Speaking Practice:::
***** (learnnc.org) Đại học Bắc Carolina; Words with 'er' sound
☶

8+29=37 strokes (wikipedia)